artLIVE – Vĩnh Tràng là ngôi chùa đầu tiên kết hợp phong cách kiến trúc Đông và Tây. Ngôi cổ tự được xem như bảo tàng ký ức của miền Mekong, nơi những mảnh ghép không hoàn hảo được nâng niu thành một di sản mềm mại và bền bỉ của đất phương Nam.
Buổi sáng ở Mỹ Tho khởi lên bằng một lớp sương mỏng phủ lên những nhánh rạch hiền hoà. Cách trung tâm chỉ độ ba cây số, con lộ nhỏ đưa tôi rời khỏi nhịp xe cộ để vào một miền tĩnh lặng khác. Ở cửa ngõ của vùng đất Chín Rồng, nơi sông rạch đan nhau thành mạch nguồn bồi đắp Nam Bộ, có một ngôi cổ tự hiện diện hơn trăm năm như một dấu lặng đẹp – chùa Vĩnh Tràng.

Tiến gần hơn, từng mái vòm, mảnh sành trên cổng, từng pho tượng lộ rõ những trầm tích gần hai thế kỷ: đó là cuộc tương ngộ của những dòng chảy văn hoá Huế, Gia Định, Khmer, Hoa, cùng hơi thở phương Tây theo các chuyến giao thương cập bến hạ lưu. Nếu nhìn Vĩnh Tràng như một di tích tâm linh, hẳn là thiệt thòi; nó là một sinh thể sống động, thấm đẫm tinh thần hiếu hoà và phóng khoáng của người miền Tây.
Ban đầu mang tên Vĩnh Trường, nghĩa là bền vững, trường tồn nhưng theo quán ngữ Nam Bộ, “Trường” đọc trại dần thành “Tràng”. Một biến âm nhỏ, nhưng giữ lại trọn vẹn tinh thần mộc mạc và tự nhiên của vùng đất luôn chuyển theo mùa nước.

Những mảnh vỡ kể chuyện mỹ thuật
Cổng Tam Quan, hoàn thành năm 1933, là nơi khiến tôi dừng lại lâu nhất, không phải vì sự đồ sộ, mà bởi vẻ đẹp rất riêng, sinh ra từ cuộc gặp gỡ giữa sự tỉ mỉ của nghệ nhân Huế và tinh thần phóng khoáng miền sông nước.

Những mảnh chén vỡ, đĩa trà lỗi, chum men nứt, tưởng là phế phẩm, được gom lại, tạo tác thành phù điêu Phật tích, tứ linh – tứ quý, hoá lá và mây trời sống động. Dưới nắng, men lam Huế gặp sành thô Nam Trung Bộ, gốm Nam Bộ gặp gạch men Nhật, xen lẫn những hoạ tiết Khmer – Thái cùng những đường nét Việt – Hoa. Một sự gặp gỡ tưởng chừng rối rắm mà lại hài hoà đến lạ – một mỹ cảm rất Nam Bộ: rộng lòng đón nhận, nhưng vẫn giữ cho mình bản sắc riêng.
Từ ‘chùa ông Huyện’ đến bản hợp xướng kiến trúc độc nhất miền Tây
Khởi sinh từ am tu nhỏ của ông bà Bùi Công Đạt, vị quan triều Minh Mạng về quê dưỡng nhàn, người địa phương quen gọi thân mật là “chùa ông Huyện”. Đến năm 1849, am được mở rộng thành đại tự, rồi trùng kiến qua nhiều thời kỳ. Nhưng dấu ấn rõ nhất là cuộc đại trùng tu vào khoảng thập niên 1930 dưới thời sư Thích Minh Đàn, định hình điện mạo đa tuyến mỹ thuật của chùa hôm nay.

Vòm cửa La Mã, bông sắt Pháp, phù điêu mang hơi thở Phục hưng – những dấu vết của thời Nam Bộ mở cửa giao thương. Rồi những mảng ghép sành sứ Việt – Hoa, hoạ tiết Chăm – Miên, gạch men Nhật… tất cả, tưởng như không liên quan, nhưng lại hài hoà đến kỳ lạ. Nếu không nghe thấy tiếng chuông ngân hay thấy tượng Phật an vị, người ta dễ nghĩ đây là một biệt thự phong cách Đông Dương hay một bảo tảng mỹ thuật vùng Mekong.

Những bàn tay ẩn danh tạo linh hồn di sản
Bước qua tiền điện rực rỡ giao thoa Á – Âu, không gian nội tự mở ra một thế giới trầm lắng. Ánh sáng nghiêng qua giếng trời, hương trầm thoảng quyện với sắc gỗ sẫm màu khiến người ta vô thức chậm lại. Trên vách là những bức sơn thuỷ từ năm 1904, và ba pho tượng đồng trầm mặc như “người giữ ký ức”.

Đặc biệt nhất là 18 bức tượng La Hán được trưng bày cung kính trong Chánh điện. Mỗi tượng cao khoảng 0,8 mét, có một biểu cảm, dáng cưỡi thú, thần thái khác nhau, mang vẻ tinh xảo và trang nghiêm hiếm thấy. Nhiều nguồn thông tin cho rằng đây là tác phẩm của nghệ nhân Tài Công Nguyên tạc vào giai đoạn 1909-1910. Nhà chùa hạn chế chụp hình trong Chánh điện để giữ sự tôn nghiêm, chính sự giới hạn ấy càng khiến quần tượng trở nên huyền nhiệm. Nhìn vào những nét điêu khắc sâu – cạn, mạnh – nhẹ, ta cảm được cả tài nghệ lẫn trái tim của những người thợ ẩn danh. Chính họ góp phần tạo nên linh hồn cho di sản này.
Di sản bản địa kể chuyện miền sông nước
Giữa miền Tây luôn chuyển mình theo con nước, Vĩnh Tràng như một nhịp trầm trong bản trường ca Mekong, nơi mỹ thuật bản địa và tinh thần giao thoa Đông – Tây cùng kể câu chuyện của vùng đất này.
Năm 2007, chùa được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam ghi nhận là ngôi chùa đầu tiên kết hợp phong cách kiến trúc Đông và Tây của Việt Nam. Những công trình mới như tượng Phật A Di Đà cao 24 mét, hay tượng Thích Ca nhập niết bàn dài 35 mét, không phá vỡ tổng thể mà như chương tiếp nối trong biên niên kiến trúc vẫn đang còn tiếp diễn.

Du khách quốc tế đến để thưởng lãm, các đoàn hành hương đến để chiêm bái, giới nghiên cứu đến để khảo cứu, người địa phương đến để tìm một khoảng yên. Dẫu lý do khác nhau, cảm xúc đọng lại khá giống nhau: Vĩnh Tràng như một bảo tàng ký ức miền Mekong, nơi những điều xưa cũ không bị bỏ lại mà được nâng niu thành di sản.
Nhìn những mái vòm nghiêng dưới nắng chiều, tôi hiểu rằng vẻ đẹp đôi khi sinh ra từ những điều không trọn vẹn. Một mảnh men lam, một chiếc chum nứt, một đường chạm gỗ cũ… qua bàn tay và tâm thức người Nam Bộ, lại ghép thành dòng di sản mềm mại và bền bỉ.
Hơn cả một di tích cổ tự, Vĩnh Tràng là một cách miền Mekong kể câu chuyện của chính mình bằng sự hoà hợp, bằng lòng rộng mở, và bằng niềm tin và sự trân trọng văn hoá bản địa.
Ảnh: Ta La Cà